Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Giải pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội cho trẻ 3- 4 tuổi tại trường mầm non. 3. Tác giả: Họ và tên: Đỗ Thị Quế Ngày tháng năm sinh: 14/02/1973 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, Trường mầm non Vinh Quang. Điện thoại: 0353479438 4. Đồng tác giả: Không 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Mầm non Vinh Quang. Địa chỉ: Xã Vinh Quang - Huyện Vĩnh Bảo - Thành Phố Hải Phòng. Điện thoại: II. Mô tả giải pháp đã biết: 1. Các giải pháp đã và đang áp dụng trong nhóm lớp mầm non nơi tôi công tác: Ở độ tuổi mầm non, trẻ có khả năng học hỏi và bắt chước rất nhanh những điều chúng nhìn thấy. Trẻ em từ 2 tuổi trở đi đã dần nhận thức được mọi thứ xung quanh và đây cũng là giai đoạn quan trọng để cha mẹ có thể chỉ dẫn và rèn luyện cho trẻ mầm non kỹ năng tự lập cơ bản nhưng cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ. Vì thế nhà trường và gia đình cần phải quan tâm để tìm ra phương pháp giáo dục khoa học, phù hợp để trẻ rèn luyện kỹ năng sống tự lập cho trẻ mầm non.Trong những năm qua xác định được tầm quan trọng của giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non, tôi đã áp dụng 1 số giải pháp như sau: Giải pháp 1: Lựa chọn một số việc vừa sức với trẻ Tôi đã cùng giáo viên cùng lớp lựa chọn ra danh sách một số việc mà trẻ lớp tôi có khả năng làm được như: Tự đi vệ sinh, tự dọn dẹp đồ chơi sau khi chơi xong, tự rửa tay bằng xà phòng, tự xúc cơm ăn và ăn sạch sẽ, lấy và cất gối đúng nơi qui định tôi luôn động viên, khích lệ trẻ phải hoàn thành công việc được giao để trẻ cảm thấy là mình đã lớn. Đôi khi tôi cũng có thể đưa ra một số công việc có mức độ khó khăn cao để thử thách trẻ,tạo cho trẻ thích được tìm hiểu về công việc mới, từ đó trẻ sẽ tích cực tham gia hoạt động hơn, hoàn thành công việc tốt hơn. 3 - Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục tính tự lập cho con từ nhỏ mà có tư tưởng lớn lên trẻ sẽ tự biết. Phụ huynh đa số nuông chiều con cái, tình trạng làm thay, làm hộ rất nhiều nên chưa phối kết hợp với cô trong quá trình giáo dục tính tự lập cho trẻ vẫn còn tình trạng: “ Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.”. Công tác phối hợp với phụ huynh rèn thói quen, ý thức tự lập cho trẻ động chưa được thường xuyên và chú trọng. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: *Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục tính tự lập cho trẻ Để việc giáo dục tính tự lập cho trẻ đạt được kết quả cao, ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng từng tháng xuyên xuốt từ những kĩ năng dễ tới những kỹ năng khó như sau: Kế hoạch giáo dục tính tự lập cho trẻ lớp mẫu giáo bé Thời gian Kĩ năng - Biết lấy và cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp và ra về. Tháng 9 - Biết tự đi lấy nước uống và cất cốc đúng nơi quy định. Tháng 10 - Biết tự đi vệ sinh khi có nhu cầu. - Biết tự gấp khăn của mình. Tháng 11 - Biết cất, xếp đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định. - Biết tự cầm thìa xúc ăn mà không cần cô nhắc. Tháng 12 - Biết bỏ rác đúng nơi quy định. - Biết tự rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn Tháng 1 bằng xà phòng. - Biết tự xúc miệng nước muối sau khi ăn. - Biết tự chào hỏi người lớn. Tháng 2 - Biết đi và tháo giầy, dép. - Biết giúp đỡ người khác khi được yêu cầu. Tháng 3 - Biết cởi, mặc quần áo. - Biết kêu gọi sự giúp đỡ của người khác khi cần. Tháng 4,5 - Trẻ tự tin làm một số công việc *Giải pháp 2: Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của lứa tuổi Để có những biện pháp giáo dục kĩ năng tự lập cho trẻ mẫu giáo bé mà tôi đang phụ trách. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã tìm hiểu về tâm sinh lý, về khả năng nhất định của trẻ để phần nào hiểu được tâm sinh lý cũng như nhu cầu của bản thân trẻ từ đó đưa ra kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất. 5 tính cách, sở thích, thái độ, khả năng của từng trẻ. Từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp mình một cách khoa học, hiệu quả. *Giải pháp 3: Giáo dục trẻ có tính tự lập ngay từ những ngày đầu đến lớp: Ngay từ những ngày đầu năm học, khi trẻ bắt đầu quen dần với cô, với bạn, làm quen với môi trường lớp học tôi tiến hành rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng đơn giản: Kỹ năng tự phục vụ và giữ gìn vệ sinh: Khi vào lớp tôi hướng dẫn trẻ cất cặp, dép đúng nơi quy định. Trước giờ ăn tôi hướng dẫn trẻ rửa tay bằng xà phòng, khi ăn tôi nhắc các cháu tự xúc ăn, khi ăn xong tôi hướng dẫn trẻ rửa tay, rửa mặt và đánh răng, tự rót nước uống. Tôi hướng dẫn trẻ rửa tay khi tay bị bẩn, đi vệ sinh đúng nơi quy định, bỏ rác đúng nơi quy định. Ví dụ: Trước khi cho trẻ ăn cơm, khi tay bị bẩn, sau khi đi vệ sinh xong tôi nhắc trẻ tự rửa tay bằng xà phòng, khi rửa xong phải khóa vòi nước, lúc đầu một số trẻ chưa quen, không rửa tay đúng cách tôi hướng dẫn, giải thích cho trẻ thực hiện đúng dần dần hình thành thói quen cho trẻ và trẻ tự giác thực hiện. - Kỹ năng hỗ trợ người khác: Giúp cô, giúp bạn thu dọn đồ chơi, giúp cô bày và thu dọn bàn ăn, lấy chén ăn cơm, lấy ca uống nước. - Kỹ năng mạnh dạn giải quyết vấn đề: Trong giờ học tôi thường đưa ra một số câu hỏi, hoặc một số tình huống và yêu cầu trẻ giải quyết. Tôi dạy trẻ khi muốn phát biểu thì phải giơ tay xin phép cô, khi nói câu từ phải rõ ràng mạch lạc, mạnh dạn đưa ra các ý kiến theo suy nghĩ của mình, không ngại nói sai. Ví dụ: Khi dạy trẻ tô màu có một bạn làm rơi hộp màu xuống đất tôi hỏi trẻ phải làm như thế nào? - Cho một vài trẻ nói cách giải quyết của mình: + Bạn Phúc Thịnh thì trả lời là bỏ hộp màu và lấy hộp khác để tô tiếp. + Bạn Quỳnh Anh trả lời: nhặt hết tất cả các màu lên bỏ vào hộp cho bạn và tiếp tục tô. + Bạn Linh thì nói là cho bạn mượn hộp màu của mình để bạn tô màu tiếp. - Tôi tổng hợp ý kiến của trẻ và hỏi cả lớp xem ý kiến của bạn nào hay nhất để cùng thực hiện. - Những công việc ấy lúc đầu đối với trẻ có thể là một việc làm thật khó khăn, nhưng với đặc điểm của trẻ ở lứa tuổi này là thích bắt chước, thích được khen ngợi, tôi chỉ cần kiên trì làm cùng trẻ, hướng dẫn trẻ tỉ mĩ, rõ ràng vậy là chỉ cần một thời gian ngắn trẻ sẽ có thể thực hiện được các công việc, và giải quyết các tình huống xảy ra hàng ngày một cách dễ dàng. Đặc điểm tâm lí của trẻ là thích được bắt chước, tuy nhiên trẻ lại có tính hay quên. Thế nên việc rèn luyện tính tự lập cho trẻ cần phải diễn ra thường 7 đúng như vậy. Và những ngày tiếp theo tôi để ý theo dõi xem trẻ có làm đúng không, nếu trẻ quên tôi nhắc trẻ và trong thời gian 1- 2 tuần trẻ bắt đầu quen và có ý thức cất đồ đúng nơi và trẻ cũng nhắc nhở khi có bạn làm sai. Trong giờ học: Đầu năm học trẻ chưa biết giơ tay phát biểu, ngồi tại chổ trả lời câu hỏi của cô. Tôi bắt đầu dạy trẻ cách giơ tay khi muốn nói, không được ngồi để trả lời câu hỏi, không được nói leo khi người lớn nói, khi nói chuyện với người lớn phải dạ thưa và nói tròn câu và nói theo suy nghĩ của bản thân. Ví dụ: Trong giờ học toán tôi đã chuẩn bị rổ đồ dùng và bảng cho mỗi trẻ nhưng tôi đặt chúng vào một bàn tôi cho mỗi trẻ lên lấy một rổ và một bảng về chỗ của mình để học. Sau khi học xong tôi cũng cho trẻ cất đồ dùng về đúng vị trí. Hay trong giờ học tạo hình cần đến hộp màu tôi thường nhờ trẻ chuẩn bị bàn học và hộp màu cho các bạn. Giờ hoạt động ngoài trời: Tôi tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động như: Nhặt lá rụng, nhổ cỏ, bắt sâu, tưới nước, nhặt rác bỏ vào thùng. Tôi chia trẻ thành các nhóm nhỏ (mỗi nhóm 4- 5 trẻ) và hướng dẫn mỗi nhóm một công việc khác nhau. Khi thấy trẻ gặp khó khăn khi thực hiện những kỹ năng mới tôi tham gia cùng làm với trẻ, kết hợp trò chuyện để hiểu vì sao cần chăm sóc cây, cho trẻ hiểu ý nghĩa tác dụng của việc đang làm giúp trẻ có ý thức bảo vệ môi trường. Giờ hoạt động góc: Đầu năm học khi trẻ chơi xong thường bỏ đồ chơi và vứt lung tung không biết thu dọn cất đúng nơi quy định, tôi phải hướng dẫn, nhắc nhở trẻ cất vào đúng nơi quy định. Ví dụ: Khi trẻ chơi xong tôi hỏi trẻ con thấy đồ chơi để như thế nào? + Nhìn vào có đẹp không? Vậy để đồ chơi ngăn nắp ngọn gàng khi chơi xong con làm gì? - Lúc đầu tôi và trẻ cùng dọn dẹp, sau một thời gian khi chơi xong trẻ bắt đầu hình thành thói quen cất đồ đúng nơi quy định và khi thấy đồ chơi để không đúng chổ trẻ tự động cất vào. Giờ vệ sinh ăn ngủ: Khi chuẩn bị cho trẻ ăn tôi hay hỏi trẻ cô sẽ làm những việc gì? Con hãy giúp cô xếp ghế của mình vào chỗ. Tôi hướng dẫn trẻ cách lấy ghế xếp vào bàn ăn và khi ăn cơm xong tôi nhắc trẻ cất ghế vào chỗ cũ. - Tôi tập cho trẻ giúp tôi bưng cơm đến bàn cho bạn, và khi trẻ làm quen tôi nhờ đến bạn khác. Như vậy khi đến giờ ăn trẻ tự động lấy ghế xếp vào bàn ăn biết bưng cơm cho bạn giúp cô. Khi ăn trẻ phải biết mời bạn, mời cô ăn cơm, khi ăn cơm các cháu phải tự xúc cơm ăn, không làm rơi vãi thức ăn ra bàn. Ví dụ: Đầu năm học một số cháu Khoa, Thanh, Chi, chưa biết cách cầm thìa múc cơm tôi phải dạy cháu cách cầm thìa để xúc cơm ăn, lúc đầu trẻ ăn còn rơi vãi, sau 2 đến 3 tuần trẻ đã tự xúc cơm ăn không còn làm rơi cơm và thức ăn ra bàn và không đợi cô giáo đút. 9 rửa mặt trước khi ăn, biết tự xả nước sau khi đi vệ sinh và biết rửa tay bằng xà phòng, chuẩn bị bàn ăn, giường ngủ cùng cô, nhặt rác bỏ vào thùng rác, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi, chuẩn bị đồ dùng cá nhân trước khi ra về... một số trẻ còn biết giúp cô giặt khăn, phơi khăn. Quan sát trẻ lớp mình, tôi thấy không còn hình ảnh bố mẹ bế trẻ vào lớp hay hình ảnh bố mẹ xách túi cho con, mà trẻ tự đeo cặp, tự để cặp dép đồ dùng ngay ngắn lên ô để cặp của mình, biết tự chào côTừ đó những thói quen tốt của trẻ được hình thành và sẽ phát triển bền vững. - Trẻ năng động, sáng tạo, tự tìm hiểu, khám phá và giải quyết công việc một cách hứng thú. - Phần nào đã giúp các bậc phụ huynh hiểu vai trò của việc giáo dục tính tự lập và có phương pháp rèn luyện đúng đắn cho bé. - Cô giáo thì chịu khó giảng giải hướng dẫn cho trẻ mọi lúc mọi nơi hơn, ít la mắng. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng sáng kiến: - Đối với trẻ: Mức tập trung của trẻ cao hơn rất nhiều, trẻ tự giác trong mọi hoạt động, khả năng lao động tự phục vụ của trẻ cao, trẻ có kỹ năng, linh hoạt, chủ động. Nhận thức của trẻ được phát triển do phạm vi tiếp xúc của trẻ được mở rộng.Trẻ khẻo mạnh và tự tin hơn trong mọi hoạt động. - Đối với giáo viên: Giáo viên nắm vững và hiểu rõ nội dung giáo dục tính tự lập, biết tích hợp nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động chăn sóc giáo dục trẻ hàng ngày. Giáo viên quan tâm đến trẻ, bao quát trẻ, luôn đáp ứng nhu cầu tự lập của trẻ. Biết xây dựng môi trường hoạt động phù hợp giúp trẻ phát triển tính tự lập. Đã chú trọng hơn đến việc giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua các hoạt động ngày ngày của trẻ, phối hợp tốt hơn với phụ huynh trong việc giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi. - Đối với phụ huynh: + Phụ huynh tin tưởng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường yên tâm công tác phát triển kinh tế. Cha mẹ trẻ cũng hiểu được tầm quan trọng, đã phối hợp tốt với cô giáo trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. + Phụ huynh nắm rõ đặc điểm tâm linh lý của con mình nói riêng và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói chung. + Kết hợp với giáo viên cùng thực hiện tốt việc giáo dục tính tự lập cho trẻ, luôn tạo điều kiện để trẻ phát huy tính tự lập.
File đính kèm:
- sang_kien_kinh_nghiem_giai_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_cho_tre.doc